MỘT NGÀY LÀ CHỦNG SINH GIOAN - MÃI MÃI THUỘC GIA ĐÌNH GIOAN

Lào: Vấn đề phong chân phước rất tế nhị về mặt chính trị

Cho đến bây giờ, chính quyền Lào – vốn rất kín đáo – đã không phản ứng gì về tin Đức Phanxicô đã ký sắc chỉ phong chân phước cho 17 linh mục, giáo dân Lào và nhà truyền giáo ngoại quốc đã bị giết ở Lào từ năm 1954 đến năm 1970. Dù vậy đây là lần đầu tiên Giáo hội Công giáo phong chân phước cho các vị tử đạo ở Á Châu bị các tổ chức cộng sản giết mà những người kế vị vẫn còn nắm quyền lực.

Chính quyền Lào không ngạc nhiên về tin này. Án phong thánh của 17 vị tử đạo đã khởi đầu từ năm 2004 và chính các giám mục Lào mong muốn như vậy, họ xác tín việc phong thánh sẽ góp phần củng cố Giáo hội Lào. Theo diễn tả riêng của các giám mục Lào thì Giáo hội Lào như “cây con còn non yếu, cần tìm “trụ đỡ”, những trụ đỡ siêu nhiên vững chắc để Giáo hội vững bước đi trên con đường còn nhiều bất trắc.

Đến bây giờ, đối với Giáo hội Á Châu, Giáo hội hoàn vũ muốn đưa lên bàn thờ các vị tử đạo của thời xa xưa. Đó là trường hợp 103 thánh tử đạo Hàn Quốc được Đức Gioan-Phaolô II phong thánh năm 1984 tại Séoul; họ là nạn nhân của các cuộc bách hại chống Giáo hội vào thế kỷ 19. Ngày 16 tháng 8-2014, tại Seoul, Đức Phanxicô đã chân phước cho 124 vị tử đạo bị giết trong của các cuộc bách hại có từ thế kỷ 18 và 19. Còn đối với Nhật bản, “26 vị tử đạo Nagasaki” được phong thánh năm 1862; 205 vị tử đạo khác được phong chân phước năm 1867, rồi 188 vị khác được phong chân phước năm 2008 ở Nagasaki; trong tất cả các trường hợp này, các vị tử đạo của Nhật đều chết trong các cuộc bách hại có từ hậu bán thế kỷ 16 và hai thế kỷ kế tiếp. Về phần Việt Nam, năm 1988 Đức Gioan-Phaolô II đã phong thánh tại Rôma cho 117 vị tử đạo Việt Nam, các nạn nhân bị giết vào thế kỷ 18 và 19. Còn Trung Quốc, ngày 1 tháng 10-2000, Đức Gioan-Phaolô II đã phong thánh cho 1230 vị tử đạo bị chết vào các thế kỷ 17, 18 và 19 trong cuộc Khởi nghĩa của Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900; Tòa Thánh cẩn thận không mở án phong thánh cho các vị tử đạo chết dưới chế độ cộng sản. Dù vậy người ta vẫn còn nhớ Trung Quốc đã mạnh mẽ lên án Vatican phong thánh cho các vị “tội phạm khủng khiếp”; nhà cầm quyền Trung Quốc đặc biệt tố cáo việc chọn các nhà truyền giáo “thông đồng với chủ nghĩa đế quốc”, ý muốn nói đến linh mục Auguste Chapdelaine, linh mục của Hội Thừa Sai Paris bị giết năm 1856 đã làm cớ cho Napoléon III (đồng minh với Anh) can thiệp để chống Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh Nha Phiến và để có thêm các nhượng bộ của một Quốc gia đã suy yếu.

Trong trường hợp 17 vị tử đạo nước Lào, các hồ sơ cho thấy: linh mục Joseph Thao Tiên và 16 linh mục, giáo dân khác bị ám sát, bị xử tử hay bị chết vì kiệt sức từ năm 1954 đến 1970 trong một bối cảnh chính trị đặc biệt phức tạp như chiến tranh chống thuộc địa, chiến tranh lạnh, phong trào giải phóng quốc gia.

Việc phúc âm hóa ở Lào chỉ mới có gần đây, vào cuối thế kỷ 19, Hội Thừa Sai Paris gởi các nhà truyền giáo đầu tiên đến Lào, tiếp đó là Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ (OMI) đến Lào vào những năm 1930. Nhưng sau Thế chiến Thứ nhì, các xáo động chính trị đã nhanh chóng làm cho công việc truyền giáo bị khó khăn. “Phe nổi loạn muốn triệt tất cả những gì có dính dáng đến người ngoại quốc và Kitô giáo, linh mục Serge Leray giải thích, linh mục Leray là chưởng ấn của địa phận Nantes và là người bảo vệ cho án phong chân phước (1). Các nhà truyền giáo đã quyết định ở lại tại chỗ như Tòa Thánh đã yêu cầu, mặc cho có những đe dọa nằng nề đè lên người họ.” Các linh mục, giáo dân này bị ám sát, bị xử tử ở Lào, còn linh mục Jean-Baptiste Malo thì chết vì kiệt sức ở một trại cải tạo ở Việt Nam (2).

Bốn mươi lăm năm sau cái chết của hai giáo lý viên bị giết năm 1970, danh sách 17 vị tử đạo ở Lào được khép lại. Năm 1975, sau khi đánh bại lực lượng Hoàng gia, chính quyền Pathet Lao lên nắm quyền và từ đó đến nay quyền lực luôn ở trong tay Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Ở một đất nước mà văn hóa Phật giáo là chính thì Kitô hữu chỉ là thiểu số, người công giáo chỉ có khoảng từ 50 đến 60 000 người. Các giám mục của bốn địa phận Giáo hội địa phương là Luang Prabang, Paksé, Savannakhet và Vientiane đều hiểu là phải kín đáo để được chính quyền tại chỗ cho một chút tự do.

Việc phong chân phước cho 17 vị tử đạo dự trù sẽ tổ chức vào tháng 5 hay 6 năm 2016, các giám mục Lào dứt khoát muốn buổi lễ sẽ được tổ chức ở Lào. Nơi chốn sẽ ấn định sau nhưng các giám mục lo ngại có thể có nguy cơ cho sự kiện này. Họ muốn giới hạn tối đa sự hiện diện của người nước ngoài, ngay cả thân nhân gia đình của “Tôi tớ Chúa” được Giáo hội vinh phong (3), để không làm mích lòng chính quyền Lào; nhưng đối với họ, một buổi lễ như vậy là buổi lễ nói lên toàn thể Giáo hội được xây dựng trên nền tảng của các chứng nhân như Thánh Phaolô và Thánh Phêrô cùng các thánh tử đạo. Giáo hội Lào muốn thấy trong các vị chân phước tử đạo của mình một nền tảng vững chắc cho sự tăng trưởng và cho đời sống đức tin của mình. Tuy nhiên, theo nguồn tin thân cận về hồ sơ này, có một số người tỏ ra ngờ vực về khả năng không biết có tổ chức được lễ phong chân phước trong bối cảnh nước Lào hiện nay hay không.

Ghi chú

(1) Hiện nay Hội Thừa Sai Paris không đích thân giới thiệu hồ sơ phong thánh cho Hội đồng Phong thánh. Hội Thừa Sai Paris gồm các linh mục của các địa phận, họ mong muốn giám mục của vị tử đạo hoặc giám mục tại nơi truyền giáo của vị tử đạo sẽ mở án cho các thành viên của họ.

(2) Trong số 17 vị tử đạo có một vài người Lào, thường là các giáo lý viên, các vị khác là các nhà truyền giáo ngoại quốc, người Pháp hoặc thuộc dòng Hiến sĩ Đức Mẹ. Trong số người Pháp có linh mục Jean-Baptiste Malo.

Linh mục Joseph Tien (1918-1954) được xem là vị tử đạo đầu tiên của Lào. Mười linh mục Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris là: Jean-Baptiste Malo (1899-1954), René Dubroux (1914-1959), Noël Tenaud (1904-1961), Marcel Denis (1919-1961) et Lucien Galan (1921-1968), năm linh mục thuộc dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ (OMI): Louis Leroy (1923-1961), Michel Coquelet (1931-1961), Vincent L’Hénoret (1921-1961), Jean Wauthier (1926-1967) và Joseph Boissel (1909-1969). Trong số này có giáo lý viên người Thái Joseph Outhay (1933-1961), giáo lý viên người Lào Luc Sy (1938-1970) và giáo dân Lào Thomas Khampheuane (1952-1968) và Maisam Pho Inpèng (1934-1970).

Ngoài ra còn có nhà truyền giáo người Ý Mario Borzaga, dạy giáo lý cho người Hmong bị giết ở Lào năm 1960.

(3) Để giải quyết cho việc các thân nhân gia đình các vị tử đạo không đến được Lào, các giám mục Lào đề nghị có các buổi lễ tổ chức tại Pháp, Ý để tưởng niệm các “Tôi tớ Chúa”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm (theo la-croix.com)

(Nguồn: Phanxicô Việt Nam)